• hinh_tap_the_9d7e49640d
ĐC: Cù Lao Dung - Sóc Trăng

Một số biện pháp thực hiện đảm bảo tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường Mầm Non Hoa Mai.

BÁO CÁO

ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN, CẢI TIẾN KỸ THUẬT

CẤP CƠ SỞ NĂM HỌC 2018 - 2019

 

          I. Sơ yếu lý lịch bản thân và chức năng nhiệm vụ được giao:

- Họ và tên: Dương Bảo Ngân Hà

- Năm sinh: 10/10/1985

- Quê quán: xã Hậu Thạnh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

- Chức danh: Phó hiệu trưởng

- Cơ quan đơn vị: Trường Mầm Non Hoa Mai

         II. Đề tài sáng kiến kinh nghiệm cải tiến kỹ thuật hoặc áp dụng công nghệ mới:

            a) Tên đề tài sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp thực hiện đảm bảo tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường Mầm Non Hoa Mai.

            b) Thời gian thực hiện sáng kiến kinh nghiệm cải tiến kỹ thuật: áp dụng trong năm học 2018 – 2019.

            c) Quá trình hoạt động để áp dụng :

* Thực Trạng vấn đề “An toàn vệ sinh thực phẩm” hiện nay:

An toàn vệ sinh thực phẩm đang là mối quan tâm lớn nhất của toàn xã hội, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến cả quá trình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng, công tác này đòi hỏi tính liên ngành cao và là nhiệm vụ của toàn dân. Đối với ngành giáo dục nói chung, trong đó bậc học mầm non nói riêng đóng vai trò rất lớn trong khâu an toàn vệ sinh thực phẩm cho trẻ bán trú trường mầm non.Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng giúp trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh cả về chiều cao lẫn cân nặng, góp phần giảm số trẻ bị suy dinh dưỡng, béo phì trong trường Mầm non.

Nhu cầu dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ, của bản thân cũng như của cộng đồng thực sự làm tôi quan tâm, suy nghĩ, lo lắng. Từ ý nghĩ đó đã thôi thúc tôi tìm tòi, bên cạnh đó là trách nhiệm của người quản lý, cần phải có các biện pháp phù hợp với thực tế nhà trường để khắc phục.

Là Phó Hiệu trưởng, tôi được phân công công tác bán trú, tôi thực sự có những trăn trở phải làm sao đảm bảo yêu cầu trong việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ ở cả 4 độ tuổi, không chỉ phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền tới các đoàn thể và quý bậc phụ huynh, quan tâm chăm lo sức khỏe, vệ sinh an toàn thực phẩm cho gia đình mà còn phải kiểm soát tốt công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ngay chính trong trường mầm non có tổ chức bán trú để các cháu được mạnh khỏe và phát triển toàn diện. Có thể những kinh nghiệm của tôi có nhiều đồng nghiệp đã có và đã thực hiện nhưng đối với đơn vị trường chúng tôi áp dụng trong năm qua có nhiều kết quả tốt như số trẻ suy dinh dưỡng từ 4,60% còn 1,84 % trong năm học trẻ tăng cân đều và không có xảy ra ca ngộ độc thực phẩm nào. Đây là lí do mà tôi chọn viết sáng kiến kinh nghiệm đề tài “Một số biện pháp thực hiện đảm bảo tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường Mầm Non Hoa Mai”.

Số liệu 1: Đầu năm học

Bảng khảo sát hiểu biết kiến thức VSATTP đối với đội ngũ CBGVCNV :

TS

GVNV

được khảo sát

Nội dung khảo sát

Kết quả khảo sát

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

27

Kiến thức hiểu biết rõ về vệ sinh an toàn thực phẩm

8

29,63

12

44,44

6

22,22

1

3,71

              Bảng khảo sát tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng

TS

Học sinh được khảo sát

Nội dung khảo sát

Kết quả khảo sát

Bình thường

Suy dinh dưỡng

 

TS

%

TS

%

 

326

Trẻ suy dinh dưỡng

311

95,40

15

4,60

 

 

* Từ những thực trạng và qua khảo sát thực tế, tôi đã đưa ra một số kinh nghiệm và giải pháp như sau:

c1/ Xây dựng kế hoạch

Ngay từ đầu năm học căn cứ vào kế hoạch của nhà trường tôi đã xây dựng kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng và nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm hàng tháng và cả năm phù hợp với đặc điểm thực tế nhà trường. Lên thực đơn ăn uống theo khẩu phần, đảm bảo cân đối các chất dinh dưỡng (P-L-G), năng lượng theo phần mềm dinh dưỡng, hàng ngày, hàng tuần, theo mùa, hợp lý, triển khai tới các bộ phận đoàn thể của nhà trường và triển khai sâu rộng trong toàn thể cha mẹ học sinh như: thông qua cuộc họp cha mẹ học sinh, tranh ảnh. Mua sắm đồ dùng bán trú, thay toàn bộ chén bát nhựa bằng chén inox, muỗng inox, ly inox.

* Thành lập ban kiểm tra

Nhà trường thành lập ban chỉ đạo y tế học đường gồm 9 thành viên. Trong đó Hiệu trưởng làm trưởng ban, trưởng Trạm y tế thị trấn là phó ban, các thành viên là y tế, phó hiệu trưởng bán trú, tổ khối trưởng, một đồng chí là đại diện cha mẹ học sinh.

Ban chỉ đạo có trách nhiệm đẩy mạnh công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống các dịch bệnh trong nhà trường.

Theo sự chỉ đạo của nhà trường ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng ngày, định kỳ… cụ thể và đột xuất được phân công cụ thể đến các thành viên trong ban chỉ đạo.

c2/ Vệ sinh nguồn nước

            Nước là một loại nguyên liệu tươi sống sử dụng trong nhiều công đoạn chế biến thực phẩm cũng như trong sinh hoạt nó có thể bị nhiễm các yếu tố nguy hại như vi sinh vật, vật lí và hóa học. Nước nhiễm bẩn sẽ tạo nguy cơ cho sức khỏe trẻ em nói riêng và cộng đồng nói chung. Đầu năm học nhà trường lấy nước để đi kiểm định nước sạch về vệ sinh an toàn. Thường xuyên kiểm tra nguồn nước nếu có biểu hiện bất thường phải báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất.

Nếu dùng nước giếng, bể chứa thì phải có nắp đậy, miệng giếng, mặt bể chứa phải cách mặt đất ít nhất 1 mét, không bị ô nhiễm từ bên ngoài. Nước phải trong, không màu, không mùi, không vị lạ. Nếu nguồn nước nghi ngờ nên đề nghị cơ quan y tế kiểm tra. Các dụng cụ chứa đựng nước sạch để chế biến thức ăn phải được cọ rửa thường xuyên giữ gìn sạch sẽ.

Nước uống của trẻ là nước bình, luôn đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng được nhà trường hợp đồng từ đầu năm học, nước đã được kiểm định đảm bảo chất lượng.

 c3/ Vệ sinh môi trường

Vị trí nhà bếp, nhà ăn phải đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường và phải cách biệt với khu vực nhà vệ sinh và các nguồn lây nhiễm khác. Bếp phải được vệ sinh khử khuẩn hằng ngày và chia riêng biệt từng khu như:

Tiếp nhận thực phẩm, Sơ chế thực phẩm, Chế biến thực phẩm, Chia thức ăn.

Các khu vực phải có biển hiệu rõ ràng. Phòng ăn, bàn ăn, bàn chế biến thực phẩm, hoặc nơi bảo quản thực phẩm phải được giữ vệ sinh sạch sẽ. Khu vực nhà bếp phải trang bị tủ chén, tủ đựng nguyên liệu đảm bảo không cho các loại côn trùng như chuột, gián, ruồi nhặn xâm nhập vào khu vực chứa thực phẩm, thùng chứa thức ăn thừa có nắp đậy kín, không để thức ăn thừa, nước thức ăn vung vãi rò rĩ ra ngoài.

Mặt sàn khu rửa và sơ chế thực phẩm cần có độ dốc để dễ thoát nước, hệ thống cống rãnh thông thoáng, không ứ động, phải có nắp đậy. Thùng chứa rác thải phải có nắp đậy kín, để tập trung cách xa khu chế biến thức ăn, phòng ăn và được chuyển đi hàng ngày xử lý không để ứ đọng.

            Xung quanh khu vực nhà bếp phải được quét dọn, vệ sinh thường xuyên, nhân viên y tế có kế hoạch hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng kiểm tra nhằm đảm bảo môi trường bếp ăn sạch sẽ thông thoáng.

c4/  Vệ sinh nguyên liệu, dụng cụ chế biến:

Để có một sản phẩm tốt không thể từ một nguyên liệu kém, dụng cụ không đảm bảo vệ sinh. Nguyên liệu kém chất lượng có thể nhiễm vi sinh vật ngay từ khi chăm sóc, nuôi trồng hoặc từ môi trường bảo quản, dụng cụ chứa đựng không đảm bảo vệ sinh, quá trình chế biến không phù hợp, không đảm bảo vệ sinh đều ảnh hưởng chất lượng của sản phẩm. Nguyên liệu dùng cho chế biến thực phẩm trong bếp ăn gồm nhiều loại có thể phân thành 2 nhóm nguyên liệu chính: Nhóm có nguồn gốc thực vật, nhóm có nguồn gốc động vật:

Nhóm có nguồn gốc động vật: như thịt, cá, trứng, sữa…. là nhóm cung cấp nhiều dinh dưỡng dễ hấp thụ như prôtêin, vitamin, khoáng chất…

Nhóm có nguồn gốc thực vật như: các loại rau, quả, củ, hoa…Theo các chuyên gia vệ sinh an toàn thực phẩm nên chọn những loại thực phẩm tươi, màu sắc, mùi vị phù hợp, có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo trong thời hạn sử dụng cụ thể: thịt không đục, bở, tôm cá mắt phải trong. Các loại rau, quả, củ, hoa… còn tươi, nguyên vẹn, có màu sắc tự nhiên, không héo, úa vàng, có biểu hiện thối nhũn, dập nát, không có mùi vị của chất lạ, các loại củ đã nẩy mầm (chú ý các loại rau quả củ có nguy cơ nhiễm thuốc bảo vệ thực vật)…Tuyệt đối không vì ham rẻ mua những loại thực phẩm đã hết hoặc gần hết thời gian sử dụng, không rõ nguồn gốc, có màu sắc, mùi vị lạ, ôi thiu…Tận dụng những khoảng đất trống để trồng để làm vườn rau sạch của bé.

Vệ sinh đồ dùng bếp ăn

Dụng cụ sơ chế thực phẩm, dụng cụ chế biến thức ăn và dụng cụ phục vụ ăn uống phải được rửa sạch sẽ thường xuyên sau mỗi bữa ăn, phải được phơi khô, có tủ đựng đảm bảo vệ sinh tránh ruồi, gián, chuột dây vào.

c5/ Thực hành vệ sinh trong quá trình chế biến.

* Sơ chế cẩn thận thực phẩm sống:

Thực phẩm sau khi mua về phải được chế biến ngay: Ngâm kỹ, rửa sạch. Các loại rau quả tươi phải gọt vỏ, làm sạch ngâm vào nước muối, rửa sạch dưới vòi nước chảy để loại trừ ký sinh trùng, tàn dư của thuốc bảo vệ thực vật…các loại thực phẩm động vật cũng tiến hành rửa và làm sạch dưới vòi nước chảy. Sơ chế thực phẩm trên bàn hoặc kệ tránh để trên đất hoặc quá gần đất, lựa chọn phần sử dụng được, loại bỏ các loại tạp chất, vật lạ, côn trùng lẫn trong thực phẩm như: sạn, lông, tóc, các mãnh kim loại, giun… sau khi sơ chế nếu chưa chế biến phải bảo quản trong tủ lạnh đảm bảo thực phẩm tươi sống, hàm lượng các chất dinh dưỡng ít bị mất.

*Để riêng thực phẩm sống và chín:

Trong thực phẩm sống đặc biệt là thực phẩm động vật như thịt các loại, hải sản… có thể chứa nhiều vi sinh vật gây hại, chúng có thể truyền sang các loại thực phẩm khác trong quá trình chế biến, bảo quản vì vậy không để lẫn với thực phẩm khác mà phải để riêng. Các dụng cụ như dao, thớt…chế biến các loại thực phẩm sống và chín cũng phải riêng biệt.

Rửa tay sạch trước khi chế biến thực phẩm, trong quá trình chế biến sau mỗi công đoạn cũng phải rửa tay sạch sẽ nhất là sau khi đi vệ sinh, nếu sử dụng găng tay cũng phải tiến hành các thao tác vệ sinh tương tự. Các dụng cụ chế biến cũng đảm bảo yêu cầu vệ sinh trước, trong và sau khi chế biến, chú ý sau mỗi công đoạn cần rửa thật kỷ dụng cụ.

Khu vực chế biến phải tuyệt đối đảm bảo các yêu cầu vệ sinh: Tiếp nhận thực phẩm một chiều, cách xa khu vệ sinh, khu chứa chất thải, hệ thống thoát nước thông thoáng không ứ động, tránh được sự xâm nhập của các loại côn trùng, ruồi, nhặng và các loại vật nuôi khác như gà vịt, mèo chó…

Đun nấu thực phẩm phải đạt độ sôi 1000C để đảm bảo tiêu diệt các loại vi sinh vật gây hại, an toàn cho người sử dụng. Chú ý những loại thực phẩm có kích thước lớn, nguyên con cần đun thật kỷ đảm bảo thời gian sôi để phần trung tâm của thực phẩm chín đều không có màu hồng.

 c6/ Bảo quản và sử dụng thực phẩm

Muốn có thực phẩm tươi ngon thì khâu tìm nguồn cung cấp thực phẩm an toàn là khâu quan trọng nhất vì vậy việc ký kết hợp đồng với nơi cung ứng thực phẩm phải uy tín, chất lượng, được ban kiểm dịch thực phẩm cấp phép. Để đảm bảo giá trị dinh dưỡng, kích thích tiêu hóa, tạo cảm giác ăn ngon miệng và an toàn cần sử dụng ngay sau khi chế biến: còn nóng, vừa nấu chín xong, không nên cho trẻ ăn thức ăn hâm nóng lại và thức ăn thừa còn lại của buổi ăn trước.

Bảo quản cẩn thận thực phẩm: Thực phẩm sau khi nấu chín nếu chưa sử dụng phải tiến hành bảo quản, không nên để ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ đồng hồ. Bảo quản thực phẩm trong tử lạnh cần chú ý: không đưa quá nhiều thức ăn còn ấm, đang nóng vào tủ lạnh, khi đưa vào tủ lạnh phải để trong các hộp có nắp đậy kín và để riêng biệt thức ăn đã nấu chín và thức ăn sống. Tủ lạnh phải làm vệ sinh sạch sẽ 1 đến 2 lần/ 1 tuần.

Không để hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật hoặc các chất gây độc khác ở khu vực chế biến, bảo quản thực phẩm, thức ăn cần che đậy tránh bụi, ruồi nhặng hay sự xâm nhập của các loại côn trùng và động vật khác.

Thực phẩm phải được đóng gói theo yêu cầu ghi trên nhãn mác. Dầu ăn, mỡ phải được để trong các dụng cụ bằng thủy tinh có nắp đậy kín để nơi khô ráo thoáng mát, chú ý: không nên để dầu ăn, mỡ trong các dụng cụ bằng kim loại, không để nơi có nhiệt độ cao, nhiều ánh sáng, khi có màu sắc mùi vị không bình thường phải bỏ ngay, tuyệt đối không được sử dụng dầu ăn hoặc mỡ đã qua sử dụng.

c7/ Vệ sinh cá nhân

 * Vệ sinh của trẻ:

Dạy trẻ có thói quen rửa tay, lau mặt theo quy trình hợp lí: Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi ăn, nhất là sau khi đi vệ sinh, súc miệng bằng nước muối…  Chuẩn bị khăn mặt, bát thìa cốc uống nước đủ cho số lượng trẻ. Dạy trẻ thói quen văn minh lịch sự trong ăn uống như: lấy tay hoặc khăn che miệng khi ho, ngáp, hắt hơi. Hàng ngày cô giáo cần kiểm tra tay, móng tay của trẻ để vệ sinh và cắt móng tay kịp thời vì bàn tay là nguồn lay bệnh trực tiếp.

Đối với trẻ phải được chăm sóc chu đáo đặc biệt là khâu vệ sinh vì sức đề kháng cơ thể còn yếu rất dể nhiễm bệnh. Cô giáo là người trực tiếp hướng dẫn giúp trẻ thực hiện các khâu vệ sinh cá nhân cần nhẹ nhàng hướng dẫn tập cho trẻ thực hiện trình tự các bước phù hợp để tạo thói quen cho trẻ.

Tập cho các cháu tác phong ăn uống khoa học: Khi ăn ngồi đúng nơi quy định, không để rơi vãi cơm và thức ăn ra ngoài, không được nói chuyện khi đang ăn thức ăn hoặc cơm trong miệng.

* Vệ sinh đối với cấp dưỡng:

Cấp dưỡng phải được khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần, được bố trí nơi thay quần áo và vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho trẻ tạo điều kiện tốt nhất cho cấp dưỡng được tham gia các lớp tập huấn hoặc các lớp bồi dưỡng những kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm giúp cho cấp dưỡng hiểu được trách nhiệm của mình là phải đảm bảo nuôi dưỡng trẻ luôn khỏe mạnh và an toàn.

Cấp dưỡng phải thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình chế biến cho trẻ, luôn sử dụng tạp dề, khẩu trang, găng tay trong suốt quá trình chế biến. Đầu tóc gọn gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, sạch sẽ, rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh và rửa tay sau mỗi công đoạn chế biến. Dùng khăn lau tay riêng, được giặt và phơi khô hàng ngày. Phải tuân thủ theo quy trình sử dụng dụng cụ chế biến thức ăn theo nguyên tắc một chiều, không tùy tiện sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống, chín lẫn lộn. Không được khạc nhổ trong lúc chế biến thức ăn cho trẻ, khi nêm ném thức ăn còn thừa phải đổ đi. Khi chia thức ăn cho trẻ phải mang khẩu trang, găng tay và chia thức ăn bằng dụng cụ. Tuyết đối không dùng tay để bốc và chia thức ăn, thực hiện nghiêm túc việc phân chia thức ăn cho trẻ phải đảm bảo số lượng và định lượng..

 

* Vệ sinh cá nhân đối với giáo viên phụ trách tại lớp:

Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp chăm sóc trẻ. Nên công tác vệ sinh cá nhân của cô giáo cùng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo VSATTP. Vì vậy cô giáo phải rửa tay bằng xà phòng trước khi chia thức ăn và mang khẩu trang, găng tay, dùng dụng cụ chia thức ăn riêng.

Chuẩn bị đầy đủ bàn ghế, khăn lau tay, đĩa đựng thức ăn thừa cho trẻ, cô luôn động viên trẻ ăn hết suất.

Tổ chức cho giáo viên được khám sức khỏe hằng năm.

Giáo viên luôn ứng xử nhẹ nhàng đối với trẻ ở mọi lúc mọi nơi để tạo cho trẻ một tâm thế ổn định về thể chất lẫn tinh thần. Và không ngừng thu thập những thông tin quan trọng về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trẻ nói riêng và người tiêu dùng nói chung để đúc kết và rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc đảm bảo VSATTP trong trường mầm non.

         c8/ Lưu mẫu thức ăn

Lưu mẫu thức ăn phục vụ cho quá trình điều tra nếu có xảy ra ngộ độc thực phẩm.

Quá trình lưu mẫu phải đảm bảo 3 đủ: Có đủ dụng cụ để lưu mẫu, dụng cụ bằng inox, phải được rửa sạch, khử trùng, có nắp đậy, mỗi loại thức ăn phải để trong một hộp riêng. Có đủ lượng mẫu tối thiểu thức ăn đặc khoảng 150 gam, thức ăn lỏng khoảng 250ml. Đủ thời gian lưu mẫu là 24 giờ. Mẫu lưu bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh (0oC đến 5o C).

Người lưu mẫu cần ghi đầy đủ ngày, giờ, tên người lấy mẫu thức ăn và niêm phong. Khi có ngộ độc thực phẩm xảy ra vẫn phải giữ niêm phong, chỉ mở khi có sự chứng kiến của các cơ quan chức năng.

            d) Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm.

d1/ Cán bộ, viên chức

100% cán bộ viên chức hiểu và nắm được công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ăn bán trú trong trường Mầm non.

Tập thể cán bộ viên chức từ nhân viên phục vụ đến cán bộ Lãnh đạo đều có ý thức trách nhiệm cao trong quá trình giữ vệ sinh chung đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm.

Kiểm tra bếp:  Nhà bếp đã được Chi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Sóc Trăng kiểm tra và công  nhận  đạt  bếp vệ sinh  an toàn thực phẩm. Dụng cụ: chén, thìa, ly được  kiểm  định  đạt  yêu cầu theo đúng quy định.

Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hàng năm không xảy ra ngộ độc.

Giáo viên áp dụng công thức an toàn thực phẩm vào trong công tác giảng dạy đạt hiệu quả cao, hầu hết trẻ biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ thông qua dạy học trên lớp, mọi lúc mọi nơi…

d2/ Bản thân:

- Làm tốt công tác tham mưu và đã được nhà trường đầu tư mua sắm thêm một số trang thiết bị phục vụ cho công tác nuôi dưỡng như: tủ lạnh bảo quản lưu mẫu thức ăn, thay một số bảng biểu cho bếp, sửa bồn vệ sinh cho trẻ,… 

- Qua việc chỉ đạo trên tôi thấy mình có nhiều kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo chăm sóc nuôi dưỡng đặc biệt là công tác an toàn vệ sinh thực phẩm cho trẻ.

d3/ Phụ huynh:

Tất cả các bậc cha mẹ học sinh đồng tình ủng hộ về cách giữ vệ sinh và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn xãy ra trong nhà trường. Đã có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác giáo dục trẻ biết giữ vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân và cùng nhau làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

d4/ Trẻ:

Hiểu được vệ sinh an toàn thực phẩm rất quan trọng đối với đời sống con người, biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường thông qua các giờ học tích hợp, vui chơi, ca dao, đồng dao…

Biết được một số lao động để giữ vệ sinh nơi công cộng, vệ sinh môi trường như: không vứt rác, khạc nhổ nơi công cộng, biết bỏ rác đúng nơi quy định, vệ sinh lớp học hàng ngày… và biết được công tác giữ vệ sinh rất quan trọng đối với sức khoẻ con người. 

Năm học 2018 - 2019 toàn trường đảm bảo tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm không có bất kỳ trường hợp ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. Chính những kết quả đạt được là nguồn động viên khích lệ cho bản thân và cho toàn trường phấn đấu hơn nữa vào những năm học tiếp theo.

 

 

Số liệu 2: Cuối năm học

Bảng khảo sát hiểu biết kiến thức VSATTP đối với đội ngũ CBGVCNV:

TS

GVNV

được khảo sát

Nội dung khảo sát

Kết quả khảo sát

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

27

Kiến thức hiểu biết rõ về VSATTP

16

59,26

9

33,33

2

7,41

0

0

             Bảng khảo sát tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng:

TS

Học sinh được khảo sát

Nội dung khảo sát

Kết quả khảo sát

Bình thường

Suy dinh dưỡng

TS

%

TS

%

326

Trẻ suy dinh dưỡng

320

98,16

6

1,84

          e) Mức độ ảnh hưởng, phạm vi áp dụng :

 Đề tài: Một số biện pháp thực hiện đảm bảo tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường Mầm Non Hoa Mai được Hội đồng khoa học của trường công nhận và triển khai cho đơn vị áp dụng vào thực tiễn, góp phần rất lớn vào cuộc vận động “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Tạo môi trường học tập vui tươi, gần gũi, nâng cao năng lực giảng dạy.

  Thủ trưởng đơn vị                                   An Thạnh Tây, ngày 19 tháng 05 năm 2019

                 Hiệu trưởng                                                          Người viết thành tích

               

 

 

           Đoàn Thị Hồng Thắm                                               Dương Bảo Ngân Hà